Bài ca thư viện

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Văn hóa đọc trong thời đại số

    Ảnh ngẫu nhiên

    Emagazinelantoahinhanhdatvanguoininhbinhb9006.jpg 0k4y1k5h7l61698654435536.png Botuikinhnghiemkhamphamotngayothungnham1641314659.jpg Z5462408155777_e11c716448c8bdf847a23719bc02949c.jpg Z5462408062421_8dc3476a2816a14202d4b52df91268d1.jpg Z5462408031212_cec4f9ba6ca644b6765657c540841662.jpg

    Sách điện tử sách bác hồ

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM THƯ WEBSITE THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC KHÁNH CÔNG - NINH BÌNH

    Chuyện kể về Bác Hồ nhân ngày sinh nhật

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tuổi Thơ Khát Vọng

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Hữu Huy
    Ngày gửi: 00h:34' 22-05-2024
    Dung lượng: 599.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tuổi Thơ Khát Vọng
    Vũ Đức Nguyên

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Table of Contents
    LỜI MỞ ĐẦU
    PHẦN MỘT Đọ sức với tử thần
    PHẦN HAI Nàng tiên trên cung Quảng và con chó vàng
    PHẦN BA Cuộc hành quân trong bồ
    PHẦN BỐN Phố Dốc Trầu
    PHẦN NĂM Thằng xẩm và chú bé què, cậu bé câm với cô bé điếc
    LỜI CUỐI SÁCH

    LỜI MỞ ĐẦU
    Vũ Đức Nguyên với “Tuổi thơ khát vọng”

    Sau lần xuất bản thứ nhất truyện “Tuổi thơ khát vọng”, cuốn sách mà tác giả viết tặng các
    em nhỏ bị tật nguyền, Vũ Đức Nguyên gửi một phần tiền nhuận bút tặng trường câm điếc Xã
    Đàn - Hà Nội. Buổi gặp mặt giữa tác giả cuốn sách với các em nhỏ ở đây diễn ra thật xúc động.
    Tham dự buổi họp mặt hôm ấy có đại diện nhiều cơ quan, đoàn thể, có nhiều bài phát biểu
    nhiệt thành. Các em nhỏ ngoan ngoãn, chăm chú lắng nghe, hân hoan vỗ tay nhưng qua ánh
    mắt các em ta thấy, ở các em chưa xuất hiện những cảm xúc đặc biệt.
    Nhưng khi nhận ra người được giới thiệu là nhà văn Vũ Đức Nguyên đang tập tễnh bước tới,
    các em ùa lại, vây quanh, có em vén hẳn cả hai ống quần nhà văn lên để tận mắt, tận tay thấy
    được đôi chân khẳng khiu, bên cao bên thấp, một bàn chân hơi vẹo, di chứng của căn bệnh bại
    liệt đeo đẳng anh suốt đời. Các em líu ríu, cố diễn đạt bằng lời, bằng ngôn ngữ tay đặc biệt của
    những người chưa nói được trọn lời và ánh mắt… những ánh mắt rưng rưng. Hóa ra, dù bị tật
    nguyền từ bé cũng có người thành được nhà văn. Đây là nhà văn! Tác giả những tập sách mà
    các em đã được thấy từ mấy hôm trước. “… Đứa vừa câm vừa điếc cầm nắm xôi đi trước, đứa
    điếc cõng đứa què, dắt đứa mù lếch thếch theo sau. Chúng líu ríu bên nhau, chia sẻ với nhau
    miếng xôi, mẩu sắn. Chúng khuyên nhủ, thúc ép đứa què, người duy nhất trong nhóm còn khả
    năng học được phải đi học, rồi thay nhau cõng, dìu bạn đến trường…” Gấp tập sách Tuổi thơ
    khát vọng lại, những hình ảnh trên cứ chập chờn trước mắt người đọc. Ta hồi hộp rồi sung
    sướng thấy cảnh cưa cắt những tấm gỗ mục làm áo quan cho Vững đã chấm dứt, chú bé đã
    vùng ra được khỏi tay thần chết. Ta lại chia sẻ niềm vui với Vững khi chú kéo quệt chân khó
    nhọc bước được những bước đầu tiên sau hơn một năm nằm liệt giường. Tình bạn với cô bé
    hàng xóm, với những trẻ tật nguyền khác đã giúp Vững vượt lên trên cảnh đời không may và
    nhiều mất mát của mình. Ta xúc động đọc từ trang này đến trang khác bởi những cảnh trong
    truyện là những cảnh đời rất thật, vẫn xảy ra đâu đó quanh ta, bởi lời văn mộc mạc của lối tự
    truyện.
    Vậy đây là tự truyện của tác giả chăng? Cuộc đời của một đứa bé tàn tật có nhiều cay đắng ê
    chề, liệu viết ra có ích gì cho người đọc và người đọc có chấp nhận không? Và, trong cảnh đời
    ấy, có những sự thật mà chỉ chợt nghĩ đến cổ họng đã nghẹn lại, nước mắt trào ra không sao hạ
    bút xuống được. đã trăn trở rất nhiều và viết tác phẩm này rất lâu trong khi anh thường hoàn
    thành những tiểu thuyết dày trang với thời gian không nhiều.
    Những người viết tự truyện thường cố ý mượn trang sách để thanh minh điều gì đó trong
    đời mình hoặc nêu cao những bài học về đạo lý, trung thực và khiêm tốn, hạn chế mình chỉ
    phản ánh niềm khao khát được sống làm người, một người bình thường, một người nuôi nổi
    mình bằng chính bàn tay mình, niềm khát vọng ấy da diết nhưng cũng là lẽ thường của một chú
    bé tàn tật và những người bạn tật nguyền khác của chú.
    Vì những lẽ trên, dù tác phẩm mang dấu ấn nhiều kỷ niệm của đời tác giả, nó vẫn là một
    sáng tác văn học hấp dẫn của một ngòi bút trung thực, khiêm tốn và đầy tính trách nhiệm.
    Cũng như chú bé Vững, còn hơn chú bé Vững, Vũ Đức Nguyên đã hai lần hất bật được tay
    thần chết. Lần trước, là khi nhỏ tuổi, do căn bệnh hiểm nghèo, trong hoàn cảnh vô cùng khó
    khăn thiếu thuốc, thiếu đủ thứ trong tình trạng xã hội lạc hậu. Lần sau, khi đã ở tuổi trưởng
    thành nhưng vì tàn tật nên nhiều trường không muốn nhận học, không một cơ quan nào chịu
    nhận cho vào làm việc. Khát vọng sống, sống và làm việc đã giúp anh vượt qua. viết văn để giãi
    bày tâm sự như một nhu cầu sống. Tâm tĩnh - tuệ sáng (lòng yên tĩnh thì trí sáng suốt) một
    nguyên lý của tư tưởng triết học phương Đông cao cả, với Vũ Đức Nguyên là một minh chứng.
    Anh bền bỉ vượt qua mọi bất hạnh, mọi sự đố kỵ của người đời, luôn giữ cho tâm mình trong
    sáng, không xao động, chính vì vậy mà ở anh sức sáng tạo phát triển mạnh mẽ, chỉ trong
    khoảng mười năm anh đã cho ra đời bộ tiểu thuyết dày: Hoa dừa nước, Chuyện làng Khê, Cái

    đêm ấy trên sông, Đời không yên ả, Trinh nữ, Con sóng bạc đầu, Lỡ thì và nhiều những trang
    sách khác.
    Viết những dòng này, chỉ với tư cách là bạn cầm bút sống gần với Vũ Đức Nguyên, tôi chân
    thành chia sẻ những cảm nghĩ của mình với các bạn đọc nhỏ tuổi.

    Nguyễn Văn Hoan


    Tôi viết cuốn sách này là để tưởng nhớ hương hồn ông ngoại, và tặng con trai tôi, cùng các em
    nhỏ tàn tật yêu thương.
    Vũ Đức Nguyên

    PHẦN MỘT
    Đọ sức với tử thần

    Không hiểu sao bỗng tôi tỉnh táo hẳn. Nhận biết mọi vật xung quanh rất rõ rệt. Tôi lấy làm
    ngạc nhiên vì sao trong nhà lại có đông người đến vậy. Ông ngoại ngồi xếp bằng tròn thu lu
    trên phản, sẵng giọng:
    - Từ nãy đến giờ đã có đứa nào sắc nước trúc lịch cho nó uống chưa?
    Mẹ tôi từ ngoài hiên bước vào, miệng lầu bầu gì đó, quẩn quanh trong nhà một tý rồi lại
    bước ra ngoài sân đến chỗ mấy người mà tôi chỉ nhìn thấy loáng thoáng, đương cưa mấy
    miếng gỗ, nện búa kỳ cạch.
    Ông ngoại gắt lên:
    - Ô hay… Mẹ thầy Thành lạ nhỉ! Thầy đã bảo là phải sắc nước trúc lịch cho nó uống thì mới
    hạ đờm thở hắt ra được chứ.
    Sao tôi lại phải uống nước trúc lịch để thở hắt ra nhỉ? Và nước trúc lịch là thứ gì? Có giống
    nước thuốc bắc sắc trong ấm đất chắt ra từng bát mà tôi vẫn uống không?
    - Đến khổ! Nó hành hạ người ta ròng rã hàng năm trời rồi còn gì…
    Tôi nghe rõ tiếng mẹ nói nhấm nhẳng ở chỗ mấy người đang đóng “áo quan” vọng vào. Mấy
    người này cằn nhằn về những miếng gỗ đầu thừa đuôi thẹo mục mủn hết cả. Chắc mẹ tôi nhặt
    nhạnh ở đâu đó hoặc xin nhà hàng xóm. Rồi bà nói với họ:
    - Thôi các bác ạ. Nhà có gì đóng nấy. Nó còn là trẻ con, đóng cái hòm bằng gỗ nào chả được,
    cốt cho kín. Chứ các bác cứ… - rồi bà oà khóc. - Rõ khốn khổ cho cái thân tôi!
    Tôi có cảm giác ớn lạnh suốt dọc sống lưng. Ô kìa… sao lại đóng quan tài chôn tôi xuống
    đất?… Tôi mắc tội gì?… Tôi mắc tội gì mà đem chôn sống tôi?
    Cha mẹ ơi, sao tôi lại không biết người chết chôn xuống đất là như thế nào. Tôi đã từng đi
    xem rất nhiều đám ma, tôi đã từng nhìn thấy những người đói lăn ra chết. Giờ tôi vẫn còn nhớ
    như in hồi bà ngoại qua đời. Lúc liệm bà ngoại vào quan tài, lũ cháu chắt lau nhau chúng tôi
    được vào tận nơi nhìn mặt bà lần cuối cùng.
    Tôi không thể nào quên được cái cảm giác lúc đó. Tôi không nhận ra được mặt bà ngoại nữa.
    Bà ngoại khi còn sống mặt nom khác cơ.
    Bà không ưa ba anh em chúng tôi. Vì lý do gì thì tôi chẳng biết. Song anh em tôi mỗi khi về
    quê ngoại là đều quấn lấy ông bà, thích thú và vui sướng. Vậy mà bà nằm bất động trên phản,
    tọp đi như thân cây cằn cỗi khô mốc, cong queo. Bà ngoại hoàn toàn thành người khác rồi.
    Thành thử tôi thấy rờn rợn. Sinh khí trong con người bà siêu thoát chỉ còn để lại một cái xác
    không, vô hồn, chẳng còn nổi nóng cáu gắt mỗi khi chúng tôi nô đùa nghịch ngợm nữa. Vậy mà
    tôi lại sợ. Sợ đến run cả người. Lũ cháu chắt đứa nào cũng lẩy bẩy vào ngó bà ngoại rồi ù té
    chạy ra bám vào người lớn.
    Trống ngực đập thình thịch. Giờ tôi cũng giống như thế ư?
    Cổ tôi đang bị mắc một cái gì đó ở trong ấy nên khó thở quá.
    Tôi gắng lấy hết sức mình. Vẫn chỉ thấy tiếng khò khè, khò khè.
    Bất lực, tôi đành nằm ì ra, nước mắt giàn giụa vì tủi thân. Rồi tôi lại lịm dần đi, thiêm thiếp
    mơ màng.
    Có ai đó đưa thìa cạy miệng tôi mở ra, chiêu mấy cùi thìa nước cay cay. Cứ thế, đến vài ba
    lần. Tôi chẳng hay biết gì, nhưng do bản năng mà vẫn cố nuốt từng ngụm nước cay cay một

    cách khó nhọc. Quả nhiên, đám đờm tắc nghẽn ở cổ họng bị thứ nước âm ấm cay cay kia làm
    tan ra, rồi tuột xuống dạ dày. Vậy là tôi thở được liền. Tôi hít lấy hít để không khí vào lồng
    ngực. Bầu không khí như có phép lạ, như liều thuốc tiên, chui vào buồng phổi trong ngực tôi,
    vực sự sống đang hấp hối như đám lửa tàn sáng bừng lên. Để rồi tôi dần dần tỉnh táo lại.
    Ông ngoại đương bước lại giường tôi nằm kia kìa. Tôi giương tròn đôi mắt nhìn ông. Ông
    ngoại không nói gì, lặng lẽ sờ vào cổ tay tôi xem mạch, bẹo bẹo vào bàn chân rồi lên hai cổ
    chân. Tôi không thấy có cảm giác gì, như chưa hề có ai bẹo cấu vào chân mình, nằm ì ra hệt cái
    xác không hồn, không sự sống.
    Lúc quay trở ra cái phản mà ông ngoại vẫn ngồi, ông nói khe khẽ, như nói với chính mình,
    cho một mình nghe:
    - Chết từ chân lên rồi…
    Ông ngoại ngồi xuống phản, co chân lên xếp bằng tròn như cũ. Rồi ông kéo cái điếu bát lại
    gần chỗ mình, mồi thuốc, châm lửa hút. Cái điếu bát rít lên sòng sọc một tràng dài đanh tiếng.
    Nhả khói ra, ông lại ngồi im lặng, giống như pho tượng trong đền mà tôi đã nhìn thấy trong dịp
    đi hội Phủ Giầy. Tôi bắt đầu chết rồi hay sao? Chết từ chân lên rồi! Nghe ông ngoại nói thế, tôi
    bèn thử co hai chân lại xem sao. Không tài nào nhúc nhích cử động được.
    Hay là ngọ nguậy mấy ngón chân vậy. Cũng vẫn cứng đơ ra. Tôi chẳng hề thấy bất kỳ một
    thứ cảm giác nào từ hai bàn chân truyền lên cả. Chao ôi… khủng khiếp biết chừng nào! Tôi
    đang chết. Chết thật. Giống như bà ngoại mất rồi. Tôi bắt đầu đi vào cõi chết từ hai bàn chân
    thực rồi. Và lúc này, không hiểu sao tôi lại tỉnh táo đến vậy. Mọi việc xảy ra quanh mình ở trong
    cái nhà này, tôi đều nhận biết và phân biệt được một cách rõ rệt. Trí nhớ vụt lóe sáng khơi dậy
    tiềm thức trong tôi hiện ra trước mắt những gì mà trí khôn của một đứa trẻ lên tám chín tuổi
    ghi nhận được từ bấy lâu nay, cái lờ mờ phảng phất, cái đậm nét rõ ràng. Sự sống còn lại chút
    nào trong người tôi chợt bùng lên trong giây phút cuối cùng để rồi tắt ngấm chăng?
    ***
    Hẳn trời đã tối lắm rồi nên ánh sáng từ chiếc đèn hoa kỳ tỏa ra tù mù giống như ánh sáng
    phát ra từ bụng con đom đóm bay giữa ao bèo.
    Trong nhà bỗng ồn ào. Tôi cố ngoái đầu nhìn ra. Anh Thành và thằng Bền vào trong làng Hệ
    Dưỡng vừa về đang rối rít khoe ông ngoại gói xôi của nhà cô Thắm gửi biếu. Chắc nhà cô Thắm
    đồ xôi thắp hương vào ngày mồng Một đầu tháng đây. Gia đình tôi thường qua lại nhà cô vì cô
    là cán bộ đoàn thể của xã. Cha tôi làm cán bộ kháng chiến hoạt động ở vùng này nên mới đưa
    mẹ con tôi từ quê ngoại tản cư vào đây.
    Nghe nói có xôi, tự dưng tôi thấy đói và thèm ăn đến thế. Rõ ràng gần một năm trời ốm đau
    tôi không hề muốn ăn một thứ gì.
    Mỗi ngày chỉ cố nuốt mấy thìa nước cháo. Có lẽ sự sống kéo dài được như vậy chắc chắn là
    nhờ thuốc bắc. Tôi uống liên tục như uống nước vối. Giờ bỗng tôi lại thấy đói có kỳ không? Tôi
    gắng sức vươn cánh tay gầy guộc hệt hai đoạn nứa tép nối với nhau chơi vơi trong không gian,
    xòe năm ngón tay xương xẩu ra xin:
    - Anh Thành ơi… cho em ăn xôi với!
    Mẹ tôi ở ngoài sân bước vào nghe thấy vậy, liền gắt:
    - Sắp chết mà vẫn còn đòi ăn à?
    Như chạm phải lửa, tôi co giật cánh tay gầy guộc đang chới với của mình vào, rã rời tự nó
    rơi bộp xuống giường. Trái tim tôi như có sợi dây thắt chặt lại, nhói đau, tủi hờn. Tôi quay mặt
    vào bức vách, mặc kệ cho nước mắt ứa ra giàn giụa.
    Chợt có tiếng ông ngoại quát:
    - Mẹ thằng Thành nói với con như vậy hả?
    Rồi ông dịu giọng:

    - Cháu Thành của ông đâu rồi nào?
    - Dạ cháu ở đây… - anh Thành từ ngoài hiên bước vào.
    - Cháu đem xôi vào cho em Vững ăn đi.
    - Eo! Em Vững sắp chết rồi ông ạ.
    - Thì cháu cứ đem vào cho em nó ăn với, kẻo tội.
    - Ứ…
    Thành đứng tần ngần. Từ bé anh ấy vốn đã có tính ăn tham.
    Mẹ tôi vẫn thường nhắc lại chuyện hồi anh Thành mới lên bốn.
    Một hôm ăn cơm, mâm cơm chỉ có một đĩa con thịt rang. Bố tôi thò đũa gắp một miếng.
    Thành nhìn thấy òa lên khóc liền, miệng gào thét lên:
    - “Giả thịt con đây, giả thịt con đây!…”
    - Mang vào cho em ăn đi chứ! - Ông ngoại lại giục.
    Anh Thành vẫn cứ đứng tần ngần. Thằng Bền thấy thế liền chạy vào giơ nắm xôi trước mặt:
    - Ông ơi! Cháu cho anh Vững nắm xôi của cháu nhé.
    Vậy là anh Thành được gỡ bí, nhảy tót ra ngoài hiên. Nói rồi thằng Bền chạy lon ton tới bên
    giường tôi. Nó mới hơn năm tuổi nên chưa thể biết chuyện tôi đang chết dần từ chân lên sẽ ra
    làm sao. Bởi thế nó đâu có sợ. Nó lay người tôi, miệng reo to:
    - Anh Vững ơi, dậy ăn xôi này…
    Thằng Bền dúi vào tay tôi nắm xôi. Tôi không thể nào cựa quậy để nhấc mình ngồi lên được.
    Hai chân tôi lúc này như đôi ống giang, cứng đờ, nặng trịch, không chút cảm giác. Tôi nằm
    ngửa và nhét từng dúm xôi vào miệng, nhai ngấu nghiến đến ngon lành.
    Thằng Bền ngó gần sát xem tôi ăn xôi một lúc rồi chạy ra ngoài hiên khoe:
    - Mẹ ơi!… Anh Vững ăn xôi ngon lắm!
    Mẹ tôi đang mải giần gạo, không rõ nói với nó hay nói với ai:
    - Chắc ăn giả bữa rồi chết thôi.
    Tôi mải ăn nên không bận lòng đến những lời nói đó. Xôi ngon thật. Tôi chưa bao giờ thấy
    thòm thèm như lúc này.
    Ông ngoại vẫn ngồi xếp bằng tròn thu lu trên phản. Ánh đèn dầu lù mù nên nhìn ông như
    một cái bóng đen sẫm, lù lù.
    No bụng, trong người tôi cảm thấy dễ chịu lạ thường. Thằng Bền lại vào leo lên giường, ngồi
    với tôi. Đến khi mẹ tôi trông thấy, bà quát luôn:
    - Bền! Có ra ngoài đi không? Mày muốn lây bệnh chết theo nó à?
    Giật mình, thằng Bền ngó lại vào mặt tôi, tò mò, khó hiểu. Tôi vẫn nằm im trước mặt nó đây.
    Tôi là anh nó, vẫn thường cõng nó đi chơi dạo nào. Vậy mà ngồi với tôi sẽ lây bệnh chết theo.
    Người ta sẽ mang ra chôn ở ngoài bãi tha ma. Ma là gì nhỉ? Thằng Bền nào có biết. Nhưng mỗi
    khi người ta dứ ma là nó sợ. Nó hình dung ma là con vật quái dị và độc ác lắm. Hẳn vì thế mà hễ
    trẻ con hờn quấy là các bà mẹ, bà chị ẵm trẻ con đều lấy ma ra để dọa.
    Như vậy thì anh Vững của nó sẽ thành ma. Ai chết mà chả hóa ra ma. Thế thì khiếp quá!
    Nghĩ sao đó bỗng nó nhìn tôi chằm chằm, lùi đít ra mép giường, tụt xuống. Vẫn không rời mắt
    nhìn tôi, đi giật lùi. Như gặp quái vật, đứa trẻ vừa nhìn thẳng sợ hãi đón chờ tai họa, vừa lùi
    bước tìm đường thoát thân. Gần đến cửa, nó ù té quay ra ôm chầm lấy mẹ tôi, hoảng hốt và
    kinh hãi.
    Tôi vẫn cứ nằm ngửa, duỗi thẳng hai chân cứng nhắc, giá lạnh không còn thấy cảm giác gì

    nữa, nhìn lên mái nhà tối om.
    Không rõ giấc ngủ kéo đến hay là tôi lại thiếp lịm đi, hay là đích thị Tử Thần đã hiện ra lấn
    dần từng bước. Khi đã cướp xong đôi chân, liền bắt đầu nuốt tới phần thân xác tôi vào miệng
    Cái Chết.
    Toàn thân tôi chợt nhẹ bẫng. Tôi có cảm giác như mình đang bồng bềnh trôi nổi chơi vơi
    giữa khoảng không. Tôi chết thật đến nơi rồi.
    Tiếng búa đóng đanh ghép quan tài cành cạch ở ngoài sân vọng vào như tiếng mõ ngoài
    chùa, mờ tỏ, huyền hoặc, xa xôi, hư ảo. Tôi nào có hay biết gì đâu. Thân xác hay linh hồn tôi
    bay bổng, lượn lờ. Ngọn đèn dầu để giữa phản nơi ông ngoại đang ngồi, ai đó hay chính ông
    ngoại đã vặn nhỏ lại, đốm lửa bé bằng hạt đỗ xanh tỏa thứ ánh sáng lờ mờ nhợt nhạt, khiến cho
    không gian trong nhà nhập nhoạng, tối tăm.
    Ngoài trời, gió ào ào về từng đợt từng đợt, đập vào vách núi Ngang, lật những tấm gianh lợp
    trên mái nhà chốc chốc lại loạt xoạt.
    Đêm.
    Cả vùng núi đá vôi chìm vào đêm tối, tĩnh mịch, thẳm sâu, hoang dã, chứa chất bao điều bí
    ẩn. Đúng như trong các truyện cổ tích mà lũ trẻ con chúng tôi vẫn thường nghe ông ngoại kể
    vào những buổi tối có trăng trong những dịp hè về thăm quê hàng năm.
    Tôi đang trong giây phút “ra đi” về nơi thiên cổ nên không thấy có một ai vào với tôi nữa.
    Mọi người đều đã lên giường đi ngủ cả rồi. Chỉ có mình ông ngoại là vẫn còn thức, cứ ngồi thu
    lu trên phản như cái cây già cỗi ủ rũ chờ ngày tàn lụi hẳn. Ông ngoại đã ngoài sáu mươi tuổi
    rồi. Vóc người vốn nhỏ nhắn, về già càng tọp đi, gân guốc và khắc khổ. Vốn là một nhà nho hay
    chữ trong làng nên có đọc một số sách thuốc. Ông không làm thầy lang kiếm tiền, nhưng bà con
    họ hàng hay láng giềng có người nào đau ốm đến nhờ cậy, ông sẵn lòng đến thăm con bệnh, bắt
    mạch kê đơn cho họ đi cắt thuốc. Hẳn lúc này, trước tính mạng đứa cháu ngoại mà phải chịu bó
    tay buông cho Tử Thần cướp nó đi thì lòng ông đau đớn lắm.
    Ông ngoại vẫn cứ ngồi lặng thầm suy tư trong bóng tối. Là người có đông con, lắm cháu.
    Nhưng trong thâm tâm, ông ngoại dành tình yêu thương cho người con gái thứ năm này. Bởi
    trong số những đứa con kể từ các con vợ cả đến các con vợ ba, nó là người chất phác thật thà.
    Năm nó mười tám tuổi, ông cho con gái đi lấy chồng. Chàng rể quê ở mãi ngoài tỉnh Hà Đông.
    Nhà nghèo phải đi kiếm sống từ thuở mười lăm, mười sáu. Ông thuận ưng, thậm chí còn giấu
    vợ cùng các con mình, giúi tiền cho chàng rể tương lai lo đồ sính lễ. Ơn trời nó là một trong
    những chàng rể tốt nhất trong số các con rể của ông, lại là người lanh lợi, có chí tiến thủ nên ăn
    ở trong họ ngoài làng ai ai cũng yêu thương quý mến.
    Ông những mừng. Tuy nhiên cũng phải nói thật, hồi vợ ông còn sống, bà ấy thương con gái
    theo cái kiểu đàn bà nhà quê, mắt chưa bao giờ nhìn vượt khỏi cái bờ dậu cúc tần nhà mình.
    Thấy cây mà chẳng thấy rừng. Chỉ ham cho con vào những nhà có của. Nên bà ấy chê thằng
    chồng nó nghèo, đối xử có phần tệ bạc với con. Giờ con rể ông theo cách mạng, làm cán bộ
    thoát ly hoạt động cho kháng chiến. Con gái ông ở nhà một nách ba đứa con mọn. Ông không
    lưu tâm chăm nom con cháu sao được. Hơn nữa, ba đứa cháu ngoại này đều được sinh ra và
    lớn lên trên quê mẹ nó nên ông biết rõ từng đứa. Bởi vậy, khi nghe tin thằng Vững ốm, tuy
    người đang mệt, ông vẫn bắt thằng Tùng với con Thảo (là những người con còn đang sống với
    ông) võng vào thăm bệnh cho cháu.
    Nó là đứa khôi ngô linh lợi nhất trong ba thằng cháu ngoại này.
    Giờ ông đành chịu bó tay… Như thế có nghĩa là bất lực đứng nhìn thằng cháu chết. Nó mà
    chết thật thì chắc chắn, ông sẽ buồn lòng rồi không khéo chết theo cháu cũng nên. Ông ngoại
    vẫn còn ngồi lặng người như chìm vào bóng tối, suy ngẫm một mình. Ông những giận con gái.
    Ừ thì cái chuyện con cái nó ốm đau ròng rã một năm trời, chạy chữa thuốc men mất đứt đi mấy
    lứa lợn thật. Thời buổi chiến tranh loạn lạc làm ăn kiếm ra đồng bạc nào có dễ, lại còn phải
    chăm sóc đứa trẻ đau ốm, hờn quấy cũng vất vả mà vẫn không cứu chữa nổi, ai chả xót thương.

    Nhiều khi cáu bẳn. Chẳng những thế, nó lại là đứa con nuôi. Con nuôi nhưng lại còn hơn con
    đẻ. Bởi bố mẹ nó đều đi làm cách mạng, sinh con trong nhà tù. Ngày Việt Minh cướp chính
    quyền đã kịp thời chiếm ngay nhà giam, giải thoát được hai mẹ con. Nhưng chẳng bao lâu thì
    người mẹ qua đời bởi kiệt sức. Bố thằng bé thì bị giặc đầy đi Côn Đảo không biết sống chết ra
    sao. Là bạn cùng hoạt động, con rể ông đã nhận đứa bé về, thuyết phục vợ nuôi. Âu cũng là cái
    số kiếp nó vào nhờ cậy cửa nhà mình. Chẳng lộc của thì cũng lộc con trời cho. Quả nhiên con
    gái ông đẻ sòn sòn, toàn con trai cả.
    Thằng Vững lớn lên sống hòa mình với lũ cháu ông, không một ai trong nhà được phép cho
    nó biết sự thật. Và rồi “bố mẹ” cũng như chú bác, cậu dì không hề bận tâm tới tông tích nó nữa,
    coi nó đích thị là con đẻ, cháu ruột của mình. Vậy đã thương thì thương cho trót. Đằng này…
    Giờ nó sắp chết rồi. Đạo lý của người làm cha làm mẹ sống ở đời sao lại nỡ nói năng cay nghiệt
    với con cái thế? Mà nào nó có làm nên tội tình gì. Nay ông trời bắt nó “đi” về với bố mẹ nó nơi
    “chín suối”, đành phải cắn răng chịu đựng chứ biết làm sao.
    Ngẫm ngợi gì đấy, chợt ông lắc đầu lẩm bẩm một mình: “Nó cạn nghĩ như mẹ nó ngày xưa
    vậy. Thương chồng thương con nhưng thiển cận và xốc nổi quá!”
    Đêm chuyển dần về sáng. ở vùng núi, mùa hè cũng vậy, đêm bao giờ cũng lành lạnh. Thức
    mãi chắc là mệt mỏi lắm rồi. Ông ngoại vặn ngọn đèn dầu cho đốm lửa đều bấc to lên, ánh sáng
    bừng thêm một chút. Ông khẽ lần bước đến giường tôi nằm, đưa tay lên sờ nắn khắp người
    thằng cháu bé bỏng đã bén sâu vào lòng yêu thương của ông. “Không lẽ nó lại chết ư?” Thoáng
    trong đầu ông câu hỏi. Ông đứng lặng yên nhìn tôi hồi lâu. Không nói gì. Rồi ông lặng lẽ quay ra,
    thu dọn điếu bát, ấm tích và đĩa chén, lấy cái gối mây đặt xuống phản ngả lưng nằm.
    Ngọn đèn dầu lẫn vào bóng đêm bởi đốm lửa ở đầu bấc chỉ còn bé tí nhờ nhờ xanh xanh như
    ánh lân tinh ngoài bãi tha ma.
    Chỉ có gió là không ngủ, vẫn thức đập vào chái hồi, đập vào vách núi hun hút, loạt xoạt.
    Rõ ràng là tôi không chết nên mọi sự việc đều được lưu giữ trong trí nhớ. Sự sống trong con
    người tôi chỉ còn thoi thóp ở trái tim bé nhỏ, yếu đuối. Thỉnh thoảng nó mới gắng gõ một nhịp
    đến là khó khăn, cố sức đẩy chút máu có trong cơ thể lên nuôi bộ óc. Để tôi có thể sống trong
    một giấc mơ kỳ lạ và khó hiểu. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hay biết một tí gì về sự thật con
    người tôi. Mới tám chín tuổi đầu, tâm hồn còn thơ trẻ nên tôi không hề bận tâm về bất cứ một
    sự bí ẩn nào. Tôi đinh ninh mình được sống trong gia đình với bố mẹ và anh em ấm êm, hòa
    thuận như bất kỳ một đứa trẻ nào. Đến tuổi học hành được cắp sách đến trường.
    Gia đình tôi vốn làm ăn sinh sống ở thị xã Ninh Bình. Sau mấy lần chạy tản cư loanh quanh,
    luẩn quẩn. Gồng gánh chạy ra vùng Thượng Đồng, rồi lại bồng bế nhau đi vào thị trấn Cầu Cừ
    tỉnh Thanh Hóa. Ở đó không được bao lâu lại trở ra làng Bộ Đầu giáp cầu Yên là quê mẹ tôi. Mẹ
    tôi thôi không bán thuốc lào mà chuyển sang mở hàng xén bán ở phố ga Cầu Yên. Phố ga khá
    đông vui, chạy từ mố cầu phía nam vào tới khu nhà ga hỏa xa, phải tới hơn cây số. Bên kia
    đường sắt là cánh đồng chiêm bao bọc lấy làng Đông Trang. Bên này đường nhựa là nhà cửa,
    phố xá với đủ các hàng quán, cửa hiệu, đằng sau liền với làng Bộ Đầu. Ông ngoại tôi cũng có
    một ngôi nhà ngói hai gian ở mặt phố.
    Giặc Pháp chiếm đóng dưới Phát Diệm, xây bốt ở núi Sậu, thỉnh thoảng lại đi càn quét quanh
    vùng, cướp bóc của cải, gạo thóc, trâu bò gà lợn và phá phong trào du kích, hoặc câu đại bác lên
    vùng ven thị xã Ninh Bình. Mà quê ngoại tôi cách thị xã có năm sáu cây số là cùng. Nếu tính
    theo đường chim bay thì còn ngắn hơn nhiều. Thành thử lắm khi đạn lạc xuống. Đã có mấy nhà
    ở dãy phố Cầu Yên trúng đạn rồi. Mẹ tôi mới đành đưa gia đình vào ở núi Ngang thuộc xứ đạo
    Hệ Dưỡng để tránh bom đạn. Cũng có nhiều gia đình ở phố Cầu Yên chạy vào. Đông vui và
    thành xóm Núi Ngang. Xóm Núi Ngang nhà nào cũng dựng một đầu hồi nhà áp sát vách núi để
    tiện khi tàu bay Pháp có đến oanh tạc thì chạy vào hang ẩn nấp cho nhanh. Đầu hồi kia chĩa ra
    phía cánh đồng chiêm trũng.
    Những đứa trẻ lớn bằng tôi trở lên đều đi học. Vào học tận trong làng Hệ Dưỡng ấy. Lớp học
    mở ở chùa của dân bên “đời” dựng dưới chân núi giáp làng. Từ ngôi chùa đến nhà thờ xứ đạo

    cũng rất gần.
    Thầy giáo dạy tôi là một ông y tá đã ngoài bốn mươi tuổi, tên là Kỳ. Không rõ vì lý do gì mà
    ông bỏ nhà thương trên thị xã Ninh Bình về làng sống với vợ con. Đoàn thể mời ông ra dạy
    đám trẻ con học chữ.
    Tôi là đứa học trò chăm chỉ và cũng sáng dạ nên được thầy giáo yêu mến. Một hôm vào nhà
    ông chơi, thấy có nhiều sách xếp đứng thành từng hàng để trong tủ, tôi bèn hỏi:
    - Bẩm thầy… thầy có các quyển sách gì để trong tủ kia ạ?
    Ông giáo Kỳ tròn mắt nhìn tôi. Có lẽ vì ngạc nhiên lắm, bởi đám học trò ông dạy đều là
    những đứa trẻ tinh nghịch, mải nô đùa hơn là phải ngồi làm tính, viết tập thật nắn nót từng
    chữ, từng dòng, càng ngại viết ám tả và rất sợ làm tập làm văn, chứ đừng nói gì đến chuyện
    buộc chúng nó ngồi một chỗ đọc sách.
    Tôi run lẩy bẩy, khoanh hai tay trước ngực đứng thẳng người y như một đứa học trò đứng
    chịu lỗi trước mặt thầy giáo. Bởi tôi ngỡ ông phật lòng, khó chịu vì sự tò mò của tôi. Đến khi
    những nét nhăn trên mặt ông Kỳ dãn ra, ánh mắt dịu đi, nheo nheo như cười, tôi mới hoàn hồn.
    Ông Kỳ hào hứng:
    - Toàn sách truyện cả đấy, con ạ! Con có muốn đọc truyện không?
    - Bẩm thầy… có ạ!
    Ông Kỳ lấy làm thích thú bởi ít có người mượn sách của ông để đọc. Dân quê, dường như cả
    làng chỉ có vài ba người biết chữ quốc ngữ là cùng. Còn đám quan viên, hào lý trong làng chỉ
    biết độc có mỗi chữ Nho thôi. Nhưng cái thứ Hán tự này xem ra học cũng khó vào nên có người
    đọc viết được, có người chỉ đọc được thôi, hiểu nghĩa lơ mơ lắm. Ông lần trong túi áo lấy ra
    chùm chìa khóa, chọn chìa rồi mở tủ. Nom ông đứng nghiêng nghiêng cái đầu ngó nhìn khắp
    lượt các hàng sách, đến điệu. Dáng vẻ hào hoa lịch lãm người thành phố có học chứ không
    nghiêm nghị khó tính như ông thầy đồ dạy tôi học chữ Thánh Hiền ở làng Bộ Đầu. Sau một lúc
    lựa chọn, ông vạch hàng sách rút ra một quyển, quay lại đưa cho tôi:
    - Thầy cho con mượn quyển này. Phải giữ gìn sách cẩn thận đấy. Thấy không, sách của thầy
    vẫn còn mới nguyên. Khi nào đọc xong thì trả, không được chuyền tay người khác làm bẩn
    sách. Rồi thầy sẽ cho con mượn tiếp quyển khác.
    Mắt tôi sáng lên, hai tay run run đón lấy cuốn sách. Tôi đứng ngây ra ngắm nghía cái bìa có
    hình người đàn bà ăn vận kiểu ám tả: Bây giờ gọi là môn chính tả. Quần áo thuở xưa, phía sau
    thấp thoáng có bóng núi xa mờ. Lần đầu tiên trong đời một đứa trẻ tôi được nhìn thấy quyển
    sách truyện. Và quyển truyện trong tay tôi mới đẹp làm sao! Tâm trí tôi cuốn hút vào bức
    tranh in ở bìa. Trông hệt người thật. Ai đó vẽ được như thế này thì thật là kỳ tài quá. Và cũng là
    lần đầu tiên trong đời tôi cảm nhận thấy con người có thể làm được cho mình nhiều thứ đồ
    dùng tuyệt mỹ, như cuốn sách này chẳng hạn.
    Ông giáo Kỳ nói người ta in trong sách bao chuyện. Cả những chuyện cổ tích mà ông ngoại
    kể cũng có in trong sách. Đọc sách là cách mở mang kiến thức và còn “sống” được nhiều hơn so
    với những người cả đời không biết một cuốn truyện là gì. Cuối cùng, ông giáo nói với tôi:
    - Thôi… cứ thế nhá. Con mang sách về mà đọc.
    Tôi chợt bừng tỉnh, ngẩng đầu nhìn ông với nỗi niềm hân hoan, miệng lắp bắp:
    - Cho con mượn thầy đem về nhà đọc ạ!
    Nói rồi tôi nhảy tót qua cửa, vọt ra sân, quên cả chào thầy.
    Ông Kỳ nói với theo:
    - Nhớ giữ gìn sách cho sạch sẽ nghe con…
    Về nhà, tôi leo lên hang đá giở cuốn truyện ra đọc. Đây là quyển truyện “Chàng rể cóc” viết
    bằng văn vần. Câu chuyện cổ tích này làm cho tôi xúc động đến khó tả. Tâm hồn thơ bé trong
    tôi đinh ninh tin là cuộc đời có thật câu chuyện xảy ra như thế. Nhiều buổi chiều nằm dài trong

    hang đá bởi chẳng biết chơi trò gì và cũng không có chỗ nào nô đùa, tôi những miên man với
    bao ý nghĩ.
    Tâm hồn như phiêu diêu, bồng bềnh mường tượng ra trong óc cảnh sống thuở “ngày xửa
    ngày xưa” nào đó. Để rồi chính những điều mình tưởng tượng nghĩ ra lại hấp dẫn cuốn hút tâm
    trí mình. Tôi đâm ra mê đọc truyện. Truyện nào cũng đọc. Còn ông giáo Kỳ thì lấy làm vui thích
    có đứa học trò ham đọc sách.
    Ban đầu ông giáo cho tôi đọc “Chàng rể cóc”, tiếp tới truyện “Thạch Sanh”, truyện “Tấm
    Cám”. Rồi đến “Tống Trân - Cúc Hoa”, “Nhị độ mai”, “Cung oán ngâm khúc”, “Truyện Kiều”…
    Cuối cùng thì đủ loại: “Chinh đông, chinh tây”, “Tam quốc”, “Thủy hử”, “Đông chu liệt quốc”,
    “Tây du ký”, “Đôi lứa xứng đôi”, “Bỉ vỏ”… Rất nhiều. Cứ đọc xong một quyển, đến lớp, ông thầy
    lại bắt tôi kể lại cho chúng bạn nghe. Ban đầu thì có run run, ấp úng. Dần dần thành quen nên
    tôi kể chuyện ngày càng lưu loát, mạch lạc. Ông giáo Kỳ đứng tựa lưng vào cửa lớp học nhìn tôi,
    thỉnh thoảng lại gật gù.
    Rồi ông còn nói cho tôi nghe những điều hay dở của cuốn truyện mà ông lấy làm tâm đắc.
    Ông giáo còn ngạc nhiên trước sự đọc sách nhanh của tôi. Có lần hôm trước mượn sách, hôm
    sau đến lớp học tôi đã mang trả. Ông hỏi:
    - Thế con không thích đọc quyển truyện này à?
    - Thưa thầy, con đọc xong rồi ạ.
    Ông giáo trố mắt ra nhìn tôi đăm đắm:
    - Con đọc xong rồi? Thế về nhà con không đi chơi à?
    - Trình thầy ở xóm Núi Ngang chúng con chả có chỗ nào mà nô đùa cả. Leo trèo mãi lên núi
    cũng chán lắm, chui rúc mãi trong các hang đá cũng buồn. Con chỉ ngồi đọc sách thôi.
    Buổi tối, đám trẻ con xóm Núi Ngang thường rủ nhau tụ tập ngồi chơi ở cửa hang. Chúng tôi
    nặn những con vịt, con ngan bằng đất rỗng bụng, khoét một lỗ nhỏ ở ngang sườn bên này, hai
    lỗ nhỏ ở ngang sườn bên kia, phơi khô thổi thành tiếng như tiếng tù và nghe buồn buồn, nhất
    là khi tiếng núi vẳng âm trở lại. Thổi như thế mãi cũng chán. Chúng nó quay ra bắt tôi kể
    chuyện. Rồi thành quen, thành lệ.
    Mỗi lần kể cho chúng bạn nghe những chuyện đã đọc ở trong sách, tâm hồn tôi như hòa
    nhập vào các nhân vật đó, vừa thơ ngây con trẻ, vừa ngộ nghĩnh hồn nhiên. Đám bạn quây
    quần quanh tôi lắng nghe, nhiều đứa há hốc mồm, đôi lúc bật cười thích thú…
    Vậy mà tôi đã ốm liệt giường một năm nay rồi. Chết đi sống lại đến mấy lần. Đám bạn xóm
    Núi Ngang đâu cả? Bố mẹ, anh em tôi đâu cả? Ông giáo Kỳ ở đâu? Cả ông ngoại tôi nữa kìa. Ông
    đi đâu rồi? Sao chỉ có mình tôi… chỉ có một mình tôi lạc giữa cánh rừng ma thiêng nước độc
    hoang vắng, cổ xưa thế này? Ô kìa… đàn voi từ rừng già Châu Phi kéo nhau tới kìa. ại… con cọp
    từ trong truyện Thủy Hử nhảy chồm ra kìa. Trời đất ơi! Đây mới khiếp chứ, con Trăn tinh từ
    trong miếu thần trườn đến nhe cái miệng đầy răng nuốt chàng Thạch Sanh… Có một cái gì, như
    một bàn tay khổng lồ giữ lấy tôi, như có tảng đá đè nặng trên ngực không thể cựa quậy, không
    thể thốt lên thành tiếng kêu cứu. Tôi có cảm giác run bắn, co rúm người lại như sắp chết đến
    nơi. Tôi nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn những con quái vật trước mặt nữa. Khi tôi mở
    mắt ra, những con quái vật biến hết sạch. Hoàn hồn. Tôi ngơ ngác giữa rừng xanh hoang dã.
    Chợt Bụt hiện lên kia kìa. Bụt giống ông ngoại như hệt. Bụt cất tiếng nói hẳn hoi. Tiếng Bụt
    thoảng trong thinh không, nhẹ như gió thoảng: “Tấm ơi… con đừng khóc nữa…” Bụt tới xoa tay
    vào trán tôi, đưa cho tôi uống bát nước vối đen đen: “Thuốc tiên cứu con sống lại đấy, con ạ!”
    Tôi gắng sức há miệng uống bát thuốc tiên Bụt mang tới. “Thôi… được rồi. Con nằm yên ngủ đi.
    Tử Thần sẽ bị đuổi ra khỏi người con, sự sống sẽ dần dần hồi sinh…” Khi tôi tỉnh giấc thì trời
    đã sáng bảnh mắt rồi.
    Tôi mở to hai mắt nhìn thao láo lên nóc nhà. Trong người nhẹ nhõm, đầu óc tỉnh táo đến
    mức tôi tưởng như mình vẫn khỏe khoắn, chưa bao giờ bị ốm liệt giường, sống bình thường
    như anh Thành, thằng Bền, như mọi đứa trẻ khác. Tôi nghe rất rõ tiếng cậu Tùng và dì Thảo,

    chắc ngủ nhờ bên nhà hàng xóm đêm qua đã về, đang rì rầm nói chuyện với nhau ở ngoài sân:
    - Chắc thằng Vững chết rồi hay sao mà im lặng quá thế này?
    Dì Thảo sụt sùi khóc:
    - Cháu Vững ơi… sao cháu nỡ vội bỏ ông bà, bố mẹ, cậu dì, bỏ anh em mà đi hả cháu? Cháu
    có biết dì v...
     
    Gửi ý kiến